You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.

Ngụy Vũ Lệ Ngọc Nam Anh
PTT Michael Võ LS Đỗ Vinh Đỗ Dzũng
Vũ Đĩnh Trọng GS Nguyễn Ngọc Bích VVA Ngọc Giao
 
Nguyễn Văn Khanh TS Tạ Cự Hải Đỗ Hồng
TS Lương Đức Hợp Trịnh Thanh Thủy BS Nguyễn Ý Đức
Thanh Tuyền Hoàng Duy-Linh Vũ Kha
Huyền Phấn Minh Thúy Bảo Lộc
Kiều Thu Bạch Cúc Đèo Nguyễn Huy-Thạch
TS Mai Thanh Truyết Thái Hà Trần Nguyên Thắng
Angie Hồquang LS Nguyễn Quốc Lân Thảo Đặng
NVR
Nguyễn Minh Nữu Hà Vân GS Kim Oanh

 

Banner
Banner
Banner

 

Hinh: KDVHinh: Ramada Garden Grove Cali

Điểm sách Boat People của Carina Hoang (a book review) PDF Print E-mail
Written by Hoàng Hải Hồ   
Saturday, 23 June 2012 22:03

Hinh: Boat People, Personal Stories From The Vietnamese Exodus 1975-1996, xuất bản bởi Carina Hoang Communications 2010 của bà Carina Hoang, một cựu thuyền nhân đã trở thành công dân Hoa Kỳ, là công trình sưu tập hình ảnh thuyền nhân (nói chung) và hồi ức cùng hình ảnh của 29 cựu thuyền nhân VN hiện đang sống tại Mỹ và Úc, cùng với 9 người nước khác (Mỹ, Úc, Canada, Indonesia) đã từng làm công tác liên hệ với thuyền nhân. Bà Carina cùng cô Michelle Lam ghi chép lời kể của cựu thuyền nhân và dịch sang tiếng Anh.

Đây không phải là cuốn sách tiếng Anh đầu tiên của một tác giả người Việt về boat people. 2001 đã có Voices of Vietnamese Boat People: Nineteen Narratives of Escape and Survival của Jade Ngoc Quang Huynh và Mary Terrell Cargill. 2005 có thêm The Vietnamese Boat People 1954 and 1975-1992 của Nghia M Vo.

Khác với 2 cuốn sách trước đây tương đối không gây nhiều tiếng vang trong cộng đồng người VN ở nước ngoài, cuốn Boat People của Carina Hoang gây nhiều phê bình tranh cãi, do bản thân tác giả Carina Hoang đã từng trở về VN để kinh doanh nhiều năm. Bài điểm sách này chỉ tập trung điểm sách chứ không phê bình cá nhân tác giả.

Trước hết nói về hình thức. Boat People in trên giấy dầy, láng, trình bày khá mỹ thuật, với nhiều hình ảnh độc đáo chưa từng công bố trước đây. Sách dầy 252 trang, khổ lớn hình chữ nhật 30cmx21cm. Chính vì giấy dầy, khổ lớn này mà tiền cước phí bưu điện gởi từ California qua Vancouver, Canada là 14$US, làm cho giá order sách lên đến 54$US. Như vậy, đối với đọc giả Âu châu, có lẽ tiền cước bưu điện lại còn cao hơn nữa.

Ngoài hồi ký và hình ảnh , tác giả còn cho dán vào sách bản sao của những lá thư có tính chất riêng tư (confidential) tỷ dụ như thư của Hồng Thập Tự Indonesia gởi cho một người về việc tìm kiếm ngôi mộ thân nhân trên đảo Kuku, thư của Ủy Ban Tái Xét Hội Đồng Kháng Kiện (Review Committee of The Appeal Board) chấp thuận cho một thuyền nhân hợp lệ tiêu chuẩn tỵ nạn chính trị sau khi người này bị đánh rớt trong đợt xét nghiệm trước đó, thư của mẹ cô bé Mộng Hà viết để đốt trước mộ cô trên đảo Kuku, cô chết năm 1979 lúc mới 15 tuổị . Những lá thư confidential này mà bây giờ không còn confidential nữa đã làm cho cuốn sách có tính chất tư liệu lịch sử, sống động và xác thực hơn.
Xin bỏ qua hồi ký của các thuyền nhân về chuyến hành trình nguy hiểm, gian nan cũng như chuyện họ sống hạnh phúc, thành công nơi định cư, là những chuyện mà ta đã quá quen thuộc. 9 cựu nhân viên UNHCR đã cho chúng ta rất nhiều chuyện lý thú.

TALBOT BASHALL là Tổng quản lý (Controller) của Trung Tâm Quản Lý Người Tỵ Nạn (Refugee Control Centre) của Hongkong, thời kỳ 1979. Ông kể: "Trên 1 chiếc thuyền có rất ít người, tôi thấy 1 cậu bé khoảng 15 tuổi bị cột dây vào với cột buồm. Hỏi cậu ta thì mới biết em sắp bị người cùng thuyền ăn thịt (vì hết lương thực). Lý do em bị trói là để em không nhẩy xuống biển. Tên em là Đào văn Cừ. Cừ kể lại: mấy hôm trước, sau khi thảo luận, họ kéo áo của em lên che đầu em rồi trói chân em bằng sợi giây thừng. Hai người đàn ông đè em xuống sàn tàu, còn cháu của thuyền trưởng đập đầu em bằng cây sắt cho đến khi máu em chẩy dầm dề. Em nghe thấy họ bảo 1 người thứ ba cắt cổ họng em, còn người khác thì đã nấu sẵn 1 nồi nước sôi lớn. Nhưng rồi họ ngần ngừ chưa kịp giết em thì 1 người trong tàu chết vì kiệt sức, cho nên họ ăn thịt người đó. 2 ngày sau, thịt người lại hết, số phận em lại bị đe doạ trở lại thì tàu đến được Hongkong."

HAZEL KASSEBAUM, người Canada, là nhân viên An Sinh Xã Hội và Sức Khoẻ Tâm Thần (Social Welfare/Mental Health Officer) tại trại tỵ nạn Vietnamese Refugee Centre(VCR), cảng Puerto Princesa, Palawan của Philippines thời kỳ tháng 3/1982 tới tháng 4/1983. Bà kể: "Trại VCR có hệ thống đặt tên cho từng thuyền tỵ nạn rất độc đáo. Tên này bắt đầu bằng số người trên thuyền còn sống sót, rồi đến địa điểm nơi thuyền cặp bờ. Như vậy, 13 El Nido là tàu có 13 người, đổ bộ vào El Nido còn 22 Culion là tàu 22 người đến được Culion. Đằng sau mỗi tên tàu là những chuyện thương tâm. Con tàu lúc xuât phát từ Vietnam có 150 người mà lúc đến Culion chỉ còn 22. Lúc tôi sắp hết nhiệm kỳ thì 1 sáng chủ nhật, tàu đánh cá Philippines kéo theo 1 chiếc thuyền Vietnam vào cảng, rất là lặng lẽ. Chúng tôi không đặt tên cho tàu này, nhưng nếu đặt tên thì nó là 0 Puerto Princesa. Lý do: tàu chưá toàn xác chết thuyền nhân, không còn ai sống sót."

STANE SALOBIR, người Úc, là Kỹ Thuật Viên (Technical Officer) cho trại tỵ nạn Galang thời kỳ 1991-1993. Ông kể: "Khi tôi làm việc ở Galang, đó là thời kỳ rất khó khăn cho dân tỵ nạn, vì chương trình Thanh Lọc Thuyền Nhân đã áp dụng. Họ phải chứng tỏ họ là người tỵ nạn chính trị thực sự, nếu không thì sẽ bị cưỡng bách hồi hương. Nhiều người đã ở Galang tới 6 năm trời, rốt cuộc phải trở về Vietnam. Buồn thay, nhiều người khác thà chết chứ không trở về, và đó là những người trẻ tuổi nữa. Phòng Kỹ Thuật (Technical Office) do tôi điều hành đã phải mở lớp dậy đóng quan tài để chôn những người tự tử”

JON DAVIDSON, người Úc, kể câu chuyện ly kỳ của chiếc tàu Skyluck với 2,561 thuyền nhân cặp cảng Hongkong. Mỗi thuyền nhân phải trả chính quyền Vietnam 12 lượng vàng, tương đương với 4,200 đô la Mỹ thời đó. Cuộc điều tra sau đó cho thấy con tàu Skyluck xuất phát tại Bến Tre với 3,466 thuyền nhân. Rời VN, tàu sơn tên lại là Kylu, đến đảo Boayan của Philippines, đổ xuống hơn 600 thuyền nhân rồi bỏ chạy, sơn lại tên cũ là Skyluck rồi trực chỉ Hongkong. Nhưng đến được Hongkong rồi thì tàu chỉ được tiếp tế thực phẩm, nước uống, áo quần, thuốc men ... mà thuyền nhân không được cho lên bờ, lý do là lúc đó Hongkong đang chứa 58,000 thuyền nhân rồi, mà trước đó mới 3 tuần, tàu Huey Fong đã đổ xuống 3,318 người. Phải mất 5 tháng sau, thuyền nhân cắt dây neo tàu, tàu trôi dạt đụng đá đảo Lamma sắp chìm thì thuyền nhân mới được vớt lên bờ. Tổng cộng thời gian thuyền nhân phải ở trên tàu Skyluck là 155 ngày, không có giường, không có phòng vệ sinh, phòng tắm ...John Davidson phải chua chát thốt lên: "Thật là xưa nay chưa hề nghe thấy một chính phủ nào lại kiếm tiền từ người dân của mình đã phải bỏ nhà bỏ cửa ra đi".

DAVID TANNER, người Úc, là nhiếp ảnh viên đi theo tàu Cap Anamur của nước Đức chuyên vớt người tỵ nạn. Ông coi thảm trạng thuyền nhân VN là 1 trong 3 biến cố quan trọng nhất trong cuộc đời ông, sau Khủng Bố 11/9/2001 và Người Mỹ đổ bộ mặt trăng 1969. Trong 5 tuần lễ, tàu vớt được hơn 695 thuyền nhân. Ông không bao giờ quên được hình ảnh của 100 thuyền nhân nằm như cá hộp trong khoang tàu, hoàn toàn kiệt sức bất động, khiến cho ông tưởng là họ đã chết, như thể ông đang nhìn vào một hố chôn tập thể.

NORMAN AISBETT, người Úc, là phóng viên báo West Australian, cũng đi theo tàu Cap Anamur làm phóng sự. Ông kể lại chuyện những chiếc tàu đánh cá Thái Lan, dài đến 20 m, dàn hàng ngang trên biển, đón chờ thuyền tỵ nạn để cướp của hiếp người. Một ngày, tàu Anamur bắt gặp 5 chiếc tàu Thái Lan đang vây quanh 1 thuyền tỵ nạn dài có 8m. 23 đàn bà, 32 trẻ em đã bị đưa qua tàu Thái Lan, còn 40 đàn ông ở lại trên chiếc thuyền tỵ nạn đã bị phá máy và đang bị nước tràn vào. Tàu Cap Anamur can thiệp, sau 1 thời gian gay cấn, đoàn tàu Thái nhượng bô, trao trả thuyền nhân cho tàu Cap Anamur.

HENRY KU là nhân viên của Civil Aid Services (Dịch vụ cứu trợ dân sự) của chính phủ Hongkong, là cơ quan đối phó với cuộc khủng hoảng thuyền nhân. Đặc điểm của Hongkong là đất quá chật nên không có chỗ cho người tỵ nạn tự nấu ăn lấy, cơ quan CAS phải lo nấu nướng cho người tỵ nạn. Ông tả lại quang cảnh ngoạn mục: nhà bếp của CAS phải nấu cơm canh trong những cái chảo khổng lồ đường kính 3 thước và dùng những cái xẻng xúc đất để đảo đồ ăn, đầu bếp đi vòng vòng chung quanh cái chảo. Người tỵ nạn VN ở Hongkong còn được phép đi ra ngoài trại để làm việc kiếm tiền. Kết quả dân tỵ nạn VN ở Hongkong lên đường đi định cư nước thứ ba giống như khách du lịch: vali đầy ắp áo quần đồ đạc tốt, nhiều người mang quá số hành lý qui định cho máy bay.

BUNDHOWI, người Indonesian, làm việc cho tổ chức Save the Children Federation and the Experiment in International Living trên đảo Galang từ năm 1987, với công tác dạy học cho thuyền nhân, cả người lớn lẫn trẻ em. Ông được học trò gọi là Thầy Bun. Ông kể nhiều câu chuyện cảm động. Ông thán phục trình độ giỏi toán của các em học sinh VN, nhưng ngạc nhiên thấy những giấy bài tập ở nhà phát cho các em không bao giờ được các em giao nộp lại. Phải mất vài tháng sau ông mới tìm ra sự thật: các em đem giấy làm bài về dùng làm giấy đi cầu, vì trong trại không có đủ nước rửa cho vệ sinh. Ông là hiệu trưởng cho trường tiểu học trên đảo, với ban giảng huấn là các thầy cô giáo tình nguyện viên người Việt. Một ngày nọ, một cô giáo mới, dạy khá giỏi, đột nhiên xin từ chức. Ông tìm ra lý do: cô đã từng làm điếm ở VN, cô bị ban giảng huấn phát hiện và đòi hỏi rút lui. Ông can thiệp bằng cách yêu cầu cô đó trở lại, nhưng lại bị các thầy cô giáo khác đe doạ sẽ bỏ dạy nếu cô giáo đã làm điếm đó được trở lại trường. Ông không nhượng bộ, cuối cùng thì ban giảng huấn đã vui vẻ chấp nhận lý lẽ của ông. Ngày lên đường định cư, cô giáo trẻ từng làm điếm đem tặng ông chiếc áo sơ mi đẹp do cô may, cô khóc và nói ông đã giúp cô niềm tự tin vượt qua quá khứ đen tối để làm lại cuộc đời. Vài năm sau, quỹ Cao Ủy Tỵ Nạn bắt đầu khô cạn, chương trình giáo dục cho thuyền nhân bị cắt giảm, trường học bị đóng cửa. Ông đã bị giằng xé giữa lương tâm nhà giáo và quyết định của tổ chức. Sau cùng, ông quyết định dạy học chui, thày trò dạy học tiếng Anh trong bí mật và trong ánh đèn cầy ban đêm. Giống như Stane Salobir, Bundhowi chứng kiến được những ngày tàn lụi của trại tỵ nạn Galang. Tuyệt vọng, phẫn uất vì không được đi định cư đã dẫn đến bạo động, sát nhân, hãm hiếp và tự sát trở thành cảnh quen thuộc trong trại. Chính mắt ông chứng kiến vài cuộc tự sát. Nghĩa trang Galang từ vài chục ngôi mộ lúc bắt đầu thành lập trại (1979) đã lên đến 503 ngôi mộ lúc đóng cửa trại (1996)

Cuối cùng là truyện của CARINA HOANG, tác giả sách. Bà vượt biên 31/5/1979. Bà phải ở đảo Kuku 9 tháng, 3 tháng đầu tự túc mưu sinh trước khi được Cao Ủy Tỵ Nạn chính thức giúp đỡ. Bà gọi Kuku là đảo Ruồi, vì nằm ngoài trời có thể bị ruồi bu kín toàn thân. Mấy tháng đầu, hầu như ngày nào cũng có người tỵ nạn chết. Là cô gái mới 16 tuổi, bà đã phải giúp đỡ người đẻ ngay trên đảo.

Nói chung, nội dung sách rất là lý thú, vì đều là kinh nghiệm của người trong cuộc, dù là thuyền nhân hay người giúp đỡ thuyền nhân. Tuy nhiên, ngay từ trang bìa trong của cuốn sách, đã có điểm làm người đọc thất vọng, mà đó là điểm rất quan trọng.

Carina Hoang viết: “The year 1975 to 1996 were witness to the largest mass migration in modern history, with more than a million people leaving their war-torn homeland, Vietnam, in search of safety.“ Đây là câu nói có thể gây ra hiểu lầm lớn là chiến tranh diễn ra từ 1975 đến 1996 tại Vietnam khiến cho hàng triệu người đi lánh nạn an toàn tại các nước khác. Thưc ra chiến tranh đã chấm dứt từ 30/4/1975. Cái mà thuyền nhân đi tìm không phải là An Toàn (safety) mà là Tự Do (freedom). Đi để trốn tránh một chế độ độc đảng, đi bầu thì chỉ có 1 ứng cử viên duy nhất, không cho làm ăn buôn bán tư nhân, khách đến nhà ngủ đêm phải khai báo với công an, đi đến thành phố khác phải xin phép công an địa phương nơi đi và nơi đến v.v. Đi tìm an toàn sao được, khi mà bước chân ra đi là đã có 70% nguy hiểm rồi, từ bị bắt cho đến chết chóc và hãm hiếp? Phải đợi đến trang Introduction, Carina Hoang mới viết: “Many died there without advancing their dream of finding freedom”. Câu viết gây hiểu lầm này là vô tình hay cố ý? Chỉ tác giả mới trả lời được.

Một sai lầm khác là trong bản đồ vẽ những địa điểm đến chính (trại tỵ nạn) ở Đông Nam Á của những chuyến vượt biên, trại Galang của Indonesia bị vẽ sai lạc địa điểm thật đến hàng ngàn cây số (trại Galang nằm ngay phía nam của Malaysia/Singapore, chỉ cách 1 tiếng đi bằng tàu).

Dù có đôi khuyết điểm và giá bán hơi cao, Boat People là công trình sưu tầm tài liệu đáng khen của Carina Hoang về thảm trạng thuyền nhân và đáng nên mua cho con cháu đọc, không nên thiếu trong tủ sách gia đình.

Hoàng Hải Hồ
Vancouver 06/04/2011

Bài này đã được đăng trên tuần báo Thời Báo Toronto số 6-12/5/2011 và Thời Báo Vancouver số 13-19/5/2011.

Cover page of the book Boat People by Carina Hoang
Cover page of the book Boat People by Carina Hoang
Carina Hoang's bio
Carina Hoang's bio
The misleading statement
The misleading statement
Galang refugee camp is incorrectly mapped
Galang refugee camp is incorrectly mapped

(nguồn: http://www.pbase.com/hoangt/review_of_boat_people_book )

scroll back to top
Last Updated on Sunday, 24 June 2012 02:03
 

Tìm Bài Viết

Những Tin Mới Nhứt

Thời Tiết Khắp Nơi

VNDC Radio.com
Web Statistics